Thứ Sáu, 30 tháng 5, 2014

Lá thư

Có viết thơ đâu,
tôi chỉ đi nhặt những ngôn từ vỡ vụn
như những cánh hoa  trên cỏ xanh,
trong một chiều mùa xuân bình yên đến thế
tôi không thể không nhặt lấy những mảnh ký ức đang rơi vào lãng quên
ở một nơi chẳng ai cần đến chúng
nhặt lấy cho mình
những mảnh hương tuổi mười bảy
cô bé tóc đuôi sam bướng bỉnh ngốc nghếch
con nhỏ ngu lâu chẳng hiểu gì
tên anh là Hoàng
anh là bạn thân nhất của anh trai,
ngày mai anh lên biên giới phía Bắc
anh đến nhà cầm theo một lá thư,
trong thư cài một cây bút Kim Tinh rất mới
hẳn là anh đã chuẩn bị rất lâu
anh viết, ngày mai anh đi lên Vị Xuyên chẳng biết thế nào
tặng em cây bút này,
nhớ về em người em gái nhỏ hậu phương
viết thư cho anh nhé...
anh đã đứng đợi ngoài cửa rất lâu
tôi ở lỳ trong nhà,
không ra
anh để lại bức thư ở song cửa sổ
rồi đi
bức thư có gài cây bút
tôi đưa cho mẹ
bắt mẹ đưa cho anh trai để anh trai trả lại cho anh
anh trai im lặng cất vào trong tủ
khi đó tôi chưa biết gì nhiều về chiến tranh và mất mát
tôi chỉ nghĩ đơn giản, mình còn bận học
không có thời gian viết thư
con nhỏ ngu lâu chẳng hiểu gì
nhiều năm đã trôi qua 
cô bé mười bảy tóc đuôi sam đã thành người đàn bà tóc chấm bạc
chiều nay đi giữa mùa xuân tĩnh lặng của phương xa
khi đất nước quê hương có thể có chiến tranh
lại có những người anh ra đi,
những người bạn anh trai ra đi,
chẳng biết thế nào...
người đàn bà tóc chấm bạc
cô bé mười bảy năm xưa
ước gì mình đã viết cho người lính ấm lòng
trước giờ ra trận:
Chúc anh đi,
chân cứng đá mềm
nhớ về anh,
em gái nhỏ hậu phương

30-5-2014



Thứ Tư, 23 tháng 4, 2014

Còn ai tìm lối

Vì tôi cũng kẻ bên lề
Cho nên tôi cứ trông về Nhã Thuyên
Đường to rộng bước chính chuyên
Sợ chi cỏ dại mọc xiên bên lề
Nhã Thuyên mất nghiệp mất nghề
Còn ai tìm lối đi về hoang vu

Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Eat the Gold


This game is written by my son:

Game con trai mình viết:







Thứ Sáu, 10 tháng 1, 2014

Người điểm sách



   Đã từ lâu, tôi thường đọc blog Nhị Linh để xem sách văn học xuất bản ở Việt nam có gì mới. Đối với tôi thì đây là một địa chỉ đáng tin cậy về sách và Nhị Linh rất phù hợp với vai trò người điểm sách.

   Tôi đã quá chán kiểu giới thiệu sách màu mè, một chiều mà ít thông tin trên báo chí thường gặp. Hoặc là hời hợt và rỗng tuếch với những từ ngữ sáng choang leng keng. Hoặc là khen và khen nhưng đọc họ khen nhau là biết họ đang miếng gắp trả miếng cho nhau trong mâm cỗ văn chương nước nhà khiến cho người đọc có cảm giác bị mắc lỡm. Hoặc vướng vào định kiến, đặc trưng cơ bản của thế hệ chúng tôi trở về trước, những thế hệ đắm chìm trong định kiến một chiều...

   Điều người đọc muốn biết về một cuốn sách là vị trí thực của nó trong mối tương quan chung giữa những cuốn sách đã ra xung quanh, nó thuộc dòng chảy nào, nó có gì mới, khác, so với những cuốn sách khác. Để biết được những điều ấy, yêu cầu quan trọng đối với người điểm sách là anh ta phải đọc rất nhiều. Phải công nhận Nhị Linh đọc rất nhiều, trong suy nghĩ của tôi, người điểm sách này giống anh chàng lãng tử dạo gót giữa những tủ sách cao dài miên man, chàng nhặt lấy một cuốn kể đôi điều về nó rồi bất thần liệng sách lại chỗ của nó và lượm lên cuốn khác. Không có cuốn sách nào lấy trọn tâm huyết của chàng, chàng cũng chẳng dừng lại ở đâu quá lâu nhưng cũng chính nhờ vậy mà chúng ta có thể yên tâm nghe chàng kể về về nhiều cuốn sách, về nhiều tủ sách. Chặng đường cứ tiếp tục trong lúc người điểm sách luôn đứng ở vị trí trung dung, vị trí mà dù bạn có ở bên lề nào bạn cũng muốn lắng nghe vì bạn sẽ không bị dẫn dắt vào những ngõ cụt yêu ghét, thù hận, chỉ là cộng thêm cho bạn hiểu biết về văn chương, về con người.

   Không phải lúc nào anh ta cũng nói ra những nhận định chính xác về một cuốn sách nhưng ngay cả khi đọc những điều đó bạn cũng thấy sự gợi mở của nó đến những điều cần nghiên cứu sâu hơn. Bạn cũng sẽ thấy anh ta quay trở lại với những cuốn sách từng được nói đến và bổ xung những nhận xét mới cho nó. Khi đọc Nhị Linh viết về cuốn Bắt trẻ đồng xanh, tôi đã không khỏi bật cười khi anh chàng phân tích câu hỏi của cậu bé Caufield về những con vịt ở công viên Trung tâm, chúng đi đâu vào mùa đông, vì Nhị Linh áp đặt vào câu hỏi đấy những ý nghĩa quá sức. Đó đơn giản chỉ là một câu hỏi hồn nhiên của đứa trẻ. Khi nhìn mùa đông trắng tuyết, lũ trẻ con và cả người lớn nữa cũng thường nghĩ đến những sinh vật rộn ràng ngày hè đã biến mất đi đâu. Nhưng biết đâu đấy cũng là một nỗi hoài nhớ cần lời giả đáp bằng những nghiên cứu nghiêm túc. Tôi luôn cảm thấy ở đằng sau những lời điểm sách của Nhị Linh phẩm chất của một người nghiên cứu văn chương nghiêm túc.

   Trong những giọng văn đã trở nên quen thuộc mà tôi hay tìm đọc kể từ khi vào mạng, có nhiều người viết hay. Trong số đó có một số người cũng hay viết điểm sách, chẳng hạn như bác Gỗ Mun. Tôi cũng thích đọc điểm sách của Gỗ Mun nhưng cảm giác khi đọc thì khác với đọc Nhị Linh. Không phải một lãng tử liệng hết cuốn sách này đến cuốn sách khác trong sự khám phá say sưa cô độc, Gỗ Mun chỉn chu cẩn thận và thường chỉ viết về những gì bác ta thích. Giống như cách bác chăm sóc tổ ấm xinh xinh của mình, bài nào ra bài nấy, không có biến động nào không thể đoán trước, trật tự, hiền lành và hứa hẹn thành quả yên bình. Trước thấy hai người thân thiết, sau thì thôi, tôi cũng tiếc cho mối thân tình, hy vọng một ngày nào đó họ lại đôi giò sóng đôi. Tôi đã đọc Nhị Linh viết về những đứa con mình, có một nỗi xót xa cuộc đời trong ấy, nó rất gần nỗi xót xa cuộc đời trong các tác phẩm văn học thực sự. Có lẽ cuộc đời khi đem sóng gió đến cho ai đó thì cũng đem theo cả quà tặng cho người ta. Tôi thích đọc Nhị Linh hơn Gỗ Mun.

   Tôi viết bài này sau khi đọc entry mới nhất của Nhị Linh, mong chàng ta tiếp tục viết điểm sách cho mọi người đọc, cho dù có bận rộn đến đâu, nghe đồn chàng ta được nhiều gái đẹp yêu lắm, ngay cả điều này rồi cũng trở thành huyền thoại.

   Như những cuốn sách.



Thứ Bảy, 14 tháng 12, 2013

Thứ Tư, 11 tháng 12, 2013

Màu thu

Tuyết rơi hay tuyết đang ru:
Ngủ đi cho giấc mùa thu khép màu...














Thứ Hai, 18 tháng 11, 2013

Thư gửi bác LH

Vì bác cho tôi hay là bác ít check mail nhưng lại hay vào blog nên tôi viết cho bác ở đây. Cũng không có gì riêng tư chỉ là kể chuyện này kia và bàn luận loanh quanh một hai chủ đề nên tôi nghĩ cứ viết ở đây cũng được.

Có chủ đề rất hot gần đây là vấn đề ngoại cảm. Ở một khía cạnh nào đấy, tôi có suy nghĩ rằng ngoại cảm có liên quan đến tâm thần mặc dù tôi chưa tìm thấy nghiên cứu nào về vấn đề này.
Để tôi từ từ trinh bày những điều khiến tôi có suy nghĩ trên nhé. Từ xưa, người ta thường nói những người yếu bóng vía thí hay gặp ma, có lẽ là do sức khoẻ tâm thần yếu thì dễ hoảng loạn, dễ bị hoang tưởng nhìn thấy những cái ko thực sự tồn tại hoặc nhìn cái nọ tưởng cái kia. Thường có chuyện xảy ra là sau một trận ốm thì người ta bỗng có khả năng ngoại cảm, nghe được hồn nói. Phải chăng là khi đó tâm thần đang ở một trạng thái bệnh dễ rơi vào hoang tưởng và chủ thể đã hướng khả năng dễ hoang tưởng ấy vào một mục tiêu cụ thể, tìm mộ chẳng hạn. Và người ta lại bảo rằng sau một thời gian thì khả năng này thường giảm hay đó chính là do chủ thể đã khỏi bệnh?
Tôi nghĩ nhà nước ko nên cổ vũ những trò đồng cốt gọi hồn này khác. Hãy nhìn nhận sự thật khách quan thay vì nương náu nơi ảo ảnh.
Vài dòng tạm thời với bác như vậy. Chúc bác luôn vui.

Thứ Bảy, 9 tháng 11, 2013

Thứ Hai, 28 tháng 10, 2013

Giải Nobel Hóa học 2013 (tiếp theo và hết) - Các công trình


(Ghi chú: ba entry trong loạt này được sắp xếp theo mức độ khó hiểu tăng dần, hai entry trước có sử dụng một số thông tin từ Reuter và báo chí mạng, riêng entry này được dịch từ phần mô tả các công trình của nhóm được giải trong tài liệu chính thức do Viện Khoa Học Hoàng Gia Thụy Điển công bố.)


Điều quan trọng trong mô hình hóa khi sử dụng cả Cơ học cổ điển và Cơ học lượng tử là việc thể hiện hai vùng này trong hệ thống mô hình được thực hiện thế nào để chúng có thể tương tác một cách có ý nghĩa vật lý. Thông thường, toàn bộ hệ thống phân tử được nhúng trong một chất điện môi liên tục, hình 1 minh họa một hệ thống như vậy.



                                   
                      Hình 1.  Multi-copper-oxidase nhúng trong nước.


Bước đầu tiên trong việc phát triển mô hình đa phạm vi được diễn ra khi Arieh Warshel đến thăm Martin Karplus tại Đại học Harvard vào đầu những năm 70. Warshel đã có hiểu biết sẵn về thế năng liên phân tử và trong phân tử còn Karplus đã có kinh nghiệm Hóa lượng tử cần thiết. Mục đích của họ khi đó là nghiên cứu các phân tử tương tự như các phân tử ở võng mạc. Đảm nhiệm khả năng nhìn của động vật, chất chromophore này đã thu hút sự chú ý của Karplus. Dựa một phần trên những ý tưởng được Honig và Karplus trình bày trước đó, Karplus và Warshel xây dựng một chương trình máy tính có thể tính toán phổ electron π và quang phổ dao động của một số phân tử phẳng với kết quả tuyệt vời. Cơ sở cho cách tiếp cận này là những ảnh hưởng của electron σ và hạt nhân đã được mô hình hóa sử dụng phương pháp cổ điển và electron π được mô phỏng bằng PPP ( Pariser - Parr - Pople ) cách tiếp cận lượng tử hóa đã được chỉnh sửa cho kết quả tốt nhất. Hình 2 cho thấy một phân tử điển hình trong nghiên cứu đó.



      Hình 2 . Các phân tử đối xứng gương 1,6 -diphenyl -1,3,5 - hexatriene mà Martin Karplus và Arieh Warshel nghiên cứu.


Đây là công trình đầu tiên cho thấy có thể xây dựng phương pháp lai kết hợp những ưu điểm của phương pháp cổ điển và phương pháp lượng tử để mô tả hệ thống hóa học phức tạp. Phương pháp đặc biệt này được giới hạn trong các hệ thống phẳng mà sự đối xứng tạo ra một sự tách biệt tự nhiên giữa các electron π đã được mô tả bằng Hóa học lượng tử và các electron σ đã được xử lý bởi mô hình cổ điển, nhưng đây không phải là giới hạn chính của nghiên cứu, như đã được thể hiện một vài năm sau, vào năm 1976. 

Sau đó Arieh Warshel và Michel Levitt cho thấy có thể xây dựng một chương trình chung cho một phân vùng giữa các electron trong các mô hình cổ điển và các electron được mô tả một cách rõ ràng bằng mô hình hóa học lượng tử. Điều này đã được thực hiện trong nghiên cứu của họ về  “Chất điện môi, tĩnh điện và sự làm ổn định trong không gian của Ion Carbon trong các phản ứng của Lysosyme". Nhiều vấn đề cơ bản cần giải quyết để cho một tiến trình như vậy làm việc. Các dạng khớp nối năng lượng mà mô phỏng tương tác giữa hệ thống cổ điển và hệ thống lượng tử phải được xây dựng, cũng như các khớp nối giữa các bộ phận cổ điển và lượng tử của hệ thống với điện môi xung quanh . Hệ thống nghiên cứu được biểu diễn trên hình 3.



Hình 3. Để hiểu làm thế nào lysozyme phân cắt một chuỗi glycoside, việc mô hình chỉ có những phần liên quan của hệ thống sử dụng Hóa học lượng tử là cần thiết, trong khi hầu hết các phần xung quanh có thể được xử lý bằng cơ học phân tử hoặc một mô hình liên tục .


Trong thời gian giữa những lần xuất bản của hai công trình nói trên (1975), một bước quan trọng làm cho các hệ thống lớn hơn có thể được nghiên cứu, Michel Levitt và Arieh Warshel đã tiến hành trong nghiên cứu của họ về sự gấp nếp của protein là chất ức chế trypsin trong tuyến tụy bò ( BPTI ). Dạng đơn giản hóa của hệ thống nghiên cứu được sử dụng trong công trình này được minh họa trong hình 4.





Hình 4 . Cấu trúc chi tiết của một chuỗi polypeptide (hình trên) được đơn giản hóa bằng cách gán mỗi axit amin còn lại với thể tích tương tác (giữa) và kết quả chuỗi - của - ngọc trai như cấu trúc (dưới) được sử dụng để mô phỏng .

Trong công trình này, sự gấp nếp của protein từ một thể cấu tạo mở đến một thể cấu tạo gấp đã được nghiên cứu, và người ta thấy rằng có thể nhóm các nguyên tử trong một hệ thống cổ điển thành các đơn vị cứng nhắc để xử lý chúng theo mô hình cổ điển. Rõ ràng, cách này giúp việc mô phỏng hệ thống tiếp cận tốc độ cao hơn.

Chủ Nhật, 27 tháng 10, 2013

Giải Nobel Hóa học 2013 (tiếp) -Sự kết hợp giữa Vật lý cổ điển và Vật lý lượng tử

Làm thế nào để ba nhà hóa học mô hình hóa được các chuyển động và tương tác trong phân tử tham gia phản ứng hóa học. Để mô tả chuyển động của những hòn sỏi hay những quả bóng khi có lực tác dụng người ta có thể dùng các định luật Newton của môn Vật lý cổ điển nhưng điện tử chuyển động trong nguyên tử, phân tử các chất thì không tuân theo các định luật cơ học cổ điển mà phải dùng cơ học lượng tử để mô tả. Với phân tử kích cỡ lớn thì cơ học cổ điển lại có tác dụng, bởi vậy họ phải dùng kết hợp giữa Vật lý cổ điển và Vật lý lượng tử để thể hiện đầy đủ hoạt động bên trong của các phân tử trong các hệ thống hóa học.

Chẳng hạn khi mô tả tương tác của thuốc với protein đích trong cơ thể thì những nguyên tử nằm trong protein mà tham gia phản ứng với thuốc sẽ được áp dụng những tính toán lý thuyết lượng tử còn phần còn lại của protein có kích thước lớn thì được áp dụng vật lý cổ điển ít đòi hỏi hơn. Bởi vậy nên Viện Khoa học Hoàng gia Thụy điển mới viết rằng ba nhà hóa học đã đoạt giải vì "sự phát triển các mô hình đa phạm vi cho các hệ thống hóa học phức tạp" nguyên văn tiếng Anh là "the development of multiscale models for complex chemical systems" trong có từ multiscale có thể hiểu là nhiều quy mô hay đa phạm vi có báo dịch là đa tỷ lệ.

Các định luật vật lý cổ điển thì quen thuộc rồi còn lý thuyết về Cơ học lượng tử thì xuất phát từ việc lưỡng tính sóng hạt được giả định là bản chất cơ bản của vật chất.Có hai phương pháp mô tả Cơ học lượng tử là Cơ học ma trận của Heisenberg và Cơ học sóng của Shrödinger, về sau Paul Dirac đưa ra phương pháp Lý thuyết biến đổi thống nhất và khái quát hóa hai phương pháp trên.





Thứ Bảy, 26 tháng 10, 2013

Giải Nobel Hoá học năm 2013 - Khi máy tính thay thế phòng thí nghiệm hóa học

(Thấy bác Lê Trần Hải nói chưa có bài nào viết rõ về giải Nobel Hóa học nên em viết entry này kính bác ạ)

Giải Nobel Hoá học năm 2013 được trao cho ba giáo sư Martin Karplus, Michael Levitt  và Arieh Warshel, vì "sự phát triển các mô hình đa phạm vi cho các hệ thống hoá học phức tạp", đây chính là  sự vinh danh những người tiên phong đã nhìn thấy và phát triển khả năng tuyệt vời của máy tính trong việc nghiên cứu các phản ứng hóa học. Sự kết hợp giữa bộ môn lập trình máy tính và các dữ liệu, kiến thức trong hóa học đã tạo ra công cụ thực hiện được những công việc khó khăn phức tạp không chỉ trong hóa học mà còn giúp ích cho sinh học, y học... Có thể nói bằng sự kết hợp này, máy tính đã thay thế phòng thí nghiệm hóa học trong những nhiệm vụ vô cùng phức tạp.


Hiện giờ thì đã có cả bộ môn sinh học máy tính (Computational Biology) với rất nhiều người nghiên cứu nhưng nếu quay trở lại thời điểm những năm 70 của thế kỷ 20, khi các nhà hóa học còn miệt mài với những chai lọ dung dịch, máy đo trong phòng thí nghiệm, dùng các quả cầu và các đoạn nối bằng nhựa để mô phỏng cấu trúc của phân tử thì chúng ta mới thấy hết công lao của những người tiên phong đã đi theo hướng dùng máy tính thay thế phòng lab. 


Điều quan trọng là hướng đi này đòi hỏi nhà hóa học phải tìm hiểu thêm lĩnh vực lập chương trình cho máy tính, những kiến thức khi đó còn xa lạ với những nhà hóa học cùng thời. Thậm chí nhiều nhà hóa học vẫn nghiên cứu chuyên môn theo cách truyền thống còn tỏ ra lạnh nhạt và không tin tưởng vào việc ứng dụng máy tính vào nghiên cứu phản ứng hóa học. Khi Warshel gửi đi những bài báo về việc này, không một bài báo nào của ông được chấp nhận ngay lần đầu. Với Karplus, đồng nghiệp bảo ông là "lãng phí thời gian".  Những nhà hóa học cùng thời chưa hiểu hết ý nghĩa công việc của các ông trong tương lai, và thời gian đã ủng hộ những người tiên phong. Levitt là một nhà hóa học ham thích máy tính, ông tự nhận mình là computer geek. Thay vì làm thí nghiệm thì ông say sưa bên máy tính ngày qua ngày, không giống một nhà hóa học chút nào. Và bây giờ ba người được giải Nobel.


Có nhiều hệ phản ứng rất phức tạp, hoặc phản ứng xảy ra rất nhanh mà để nghiên cứu chúng thì các phương pháp trong phòng lab cũng chưa thực hiện nổi, nhưng máy tính làm được. Các chương trình mô phỏng phản ứng có thể diễn tả lại các hệ phản ứng xảy ra như thế nào như khi ta xem một bộ phim, bởi vậy mà các giáo sư vừa đoạt giải còn được gọi là những người đưa hóa học vào cyberspace. Thực ra thì có rất nhiều người đã nối tiếp công việc của họ để đưa các ứng dụng máy tính vào Hóa, Sinh nhưng họ là những người đầu tiên lập ra các chương trình mô phỏng để hiểu và dự đoán các quá trình hóa học, bởi vậy mà công đầu dành cho họ.  


Giải Nobel Hóa học lần này đã vinh danh những nhà hóa học đồng thời là những người mở đường cho ngành Computational Biology, cho thấy ranh giới giữa các ngành khoa học trong sự phân loại truyền thống có nguy cơ bị xóa nhòa và trong tất cả các ngành khoa học đều đang có sự đóng góp rất lớn của máy tính. Còn nhiều nhiệm vụ đang thách thức phía trước với môn Sinh học Máy tính và   Martin Karplus, Michael Levitt  và Arieh Warshel mãi mãi là những người đầu tiên được ghi nhận công lao cho ngành nghiên cứu này.



Thứ Năm, 24 tháng 10, 2013