Thứ Tư, 11 tháng 7, 2007

The Myth of Psyche

In Search of the Human Mind

***

The field of psychology is named in honor of the mythological Psyche (which means spirit or soul in both Greek and Latin).

Psyche was the youngest of three daughters of a great king. So beautiful was she in both countenance and spirit that people traveled from all over the world to admire her. Venus, goddess of beauty, become jealous of Psyche because their admiration of Psyche led people to neglect and even forget about Venus. So Venus devised a plot: She asked her son, Cupid, the god of love, to make Psyche fall in love with the most detestable creature in the world.

Cupid arranged for Psyche to be abandoned by her parents on a hilltop, where she would be betrothed to an ugly and vile winged serpent. Psyche wept at her fate but was resigned to her doom because, although she was beautiful, no one had in fact fallen in love with her, and so it seemed that only the winged serpent would have her.

Venus had not counted on one detail, though. Cupid, upon seeing Psyche, himself fell in love with her. Instead of bringing her a monster, he spirited her to his magnificent palace and made her his wife. However, because Psyche was a mortal, Cupid could not allow her to know either who he was or what he looked like. He visited her only at night and made her agree never to look upon him. Psyche lived a happy life with Cupid, although one of mystery.

Eventually, Psyche’s sisters, upon seeing the splendid palace where Psyche lived, became envious and devised a plot to ruin her. They poisoned her mind, assuring Psyche that if her husband was so secretive about his identity and dreadfully wrong with him. Clearly, they said, Psyche had ended up with the dreadful winged serpent after all.

Psyche finally could no longer bear the uncertainty of not knowing who her husband was or what he looked like. One night, while Cupid slept, she cautiously carried a lamp to his bed to gaze upon his face. Instead of seeing a monster, however, she saw a handsome a face as one could possibly imagine, and her hands started to tremble at the sight of her beloved husband. As she trembled, though, oil fell from her lamp and severely burned Cupid’s shoulder. He awoke, and finding that his wife had betrayed him, he fled.

In anguish at her faithlessness and at having hurt him and then lost him, Psyche vowed to show Cupid how much she love him by spending the rest of her life searching for him. She prayed to all of the gods for help, but none of them wanted to risk the wrath of Venus. Finally, in desperation, Psyche prayed to Venus herself.

Cupid had flown to his mother and asked her to treat his wound. When Venus heard that Cupid had married Psyche and that Psyche had betrayed her pledge to Cupid, Venus decided to punish Psyche severely. When Psyche begged for forgiveness from Venus, Venus belittled Psyche as faithless and plain and told her that her only hope for forgiveness was to perform certain tasks. The tasks were clearly impossible, but Psyche hoped that in her travels to complete the tasks she might find her lost love.

First, Venus took some tiny seeds of wheat, poppy, and millet, mixed them, and dropped them in a single pile. She gave Psyche until nightfall to separate the seeds. Psyche despaired, but a colony of ants, showing compassion, sorted them for her. Venus returned, and seeing what had happened, became even angrier.

So Venus gave Psyche more impossible tasks, such as to fetch the golden wool of some fierce sheep and to obtain black water from the river Styx. Again, through the help of others, Psyche fulfilled her tasks. Finally Cupid, who was now healed, longed for her once again. He went to her, scolded her gently for her earlier faithlessness, and assured her that her search was over. He longed to reunite with her, so he approached Jupiter, king of the gods, and beseeched him to grant Psyche immortality. Jupiter consented and, before an assembly of gods, made Psyche a goddess and announced that Cupid and Psyche were formally married. Even Venus was joyous: Her son now had a suitable match.

Moreover, with Psyche in the heavens rather than on Earth, people would no longer be distracted by Psyche’s beauty and would worship Venus once again.

The curiosity of Psyche and her search- for both knowledge ( of who Cupid was and what he looked like) and for love- are symbolic of our own spirit of inquiry as we go in search of human mind. The story of Psyche exemplifies many of the phenomena that psychologists seek to study: curiosity, envy, love, compassion, altruism, and perseverance.

Most of all, the story of Psyche is a symbol of the one thing that we all have that can be studied but perhaps never fully understood, of the one thing that is given to us but can never be taken away- the human spirit.

Despite tremendous obstacles, Psyche persisted in search for what made her soul complete.

Love and Soul …had sought and after some trials, found each other, and that union could never be broken.

(Hamilton, 1942, p.100)

(In search of the human mind / Robert J. Sternberg)

Thứ Tư, 4 tháng 7, 2007

Tag, tag, tag.... :) :) :)




Thế là em bị tag bởi bác Free, thế là em phải đọc kỹ thể lệ…

Thể lệ: Mỗi người chơi phải bắt đầu với 7 sự thật / sở thích gì đó về bản thân họ. Những người bị tag cần phải viết vào blog của họ về 7 thứ của họ, cũng như những điều luật này. Kết thúc entry, bạn phải tag 7 người khác và liệt kê tên của họ. Đừng quên để lại cho họ một quick comment nói rằng họ đã bị tag và phải đọc blog của bạn!

…Và thế là em ngồi cắn bút (à quên mân mê chuột) nghĩ đến cái sơ yếu lý lịch hồi xưa hay phải khai, hihi, em đếm từ một đến bảy thế này:

1. Một: Em tên Yến đệm Hoàng (họ của mẹ), tuổi gà, sinh nhằm mùa mưa bão, hai năm nữa là thổi 40 ngọn nến vào ngày sinh, thấy lo lo… Hiện sống cùng chồng và con trai ở xa quê hương nên thường xuyên nhớ hai mẹ (bố và ba đã mất). Hay nhớ ba khi xưa, con gái út được chiều… May mắn là giờ cũng được chồng và con trai chiều lém ạ. :)

2. Hai: Cấp I học trường ĐĐL khu Gang thép, cô giáo lớp một tên là Dậu, cô giáo lớp hai, ba tên là Quạt, cô giáo lớp bốn tên là Thắm. Chữ cô Thắm rất đẹp va tính cô rất nghiêm. Thời gian này ở nhà và ở trường hay bị gọi là Yến Tồ. Cấp hai học chiên tán Nha Trang (Thái nguyên), cấp ba học trường Gang thép, cũng chiên tán, lớp 12 làm lớp chảng. Cô dạy văn dỗ đi thi hs giỏi văn nhưng thầy chủ nhiệm ko cho. Giải ba toán toàn quốc.

3. Ba: Cử nhân các trường ĐH Tổng hợp, ĐH Ngoại ngữ ở HN. Master Chemical Sciences ở một trường thuộc Ontario, hiện đang học PhD ngành Ecology.

4. Bốn: Yêu thiên nhiên, thích ngắm rừng núi, sông, hồ, biển lúc bình minh và khi hoàng hôn. Thích nghe tiếng chim hót, tiếng cây lá xào xạc, thích nghe nhạc không lời. Thích đi câu cá trên hồ cả mùa hè lẫn mùa đông. Thích trời khi nắng, khi mưa, thích những đêm trăng. Thích tìm hiểu về con người như là một phần của tự nhiên chứ không tách rời.

5. Năm: Yêu chồng, thương con, thích làm thơ. Thơ như một người bạn tri kỷ có thể giãi bầy cả khi buồn lẫn khi vui, đôi khi dồn suy tư vào một hai câu thơ thấy dễ hơn là dùng văn xuôi tràng giang đại hải ra vài trang. Có lúc nhận ra mình vụng về thất bại với câu chữ thì buồn, như thể mình đã không đối đãi với bạn chu đáo.

6. Sáu: Thích thơ Bùi Giáng, thích cả con người ông. Thích văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư, thích cả con người chị.

7. Bảy: Tin mới nhất gần đây là nhờ sự nhiệt tình dạy dỗ của chồng mà đã biết bơi, rất thích thú với trải nghiệm này, sẽ nhớ mãi như một kỷ niệm vì tập mấy chục năm nay mà giờ mới bơi được, kinh nghiệm truyền cho các bạn đang học bơi là: đừng sợ hãi, đừng co quắp, hãy duỗi người ra và bạn sẽ bơi được, rất rất thú vị.

(P/S: ảnh này xấu quá ạ, có ảnh khác "xinh" hơn định đem khoe (chẳng mấy khi được khoe nhiều thế!) thì lại không thấy ở máy này, thôi các bác xem tạm, hihi)

Hết ạ. :)

Màu thời gian

Cảm ơn em Phá đã sửa giúp chị một từ chị nhớ nhầm trong bài thơ Màu thời gian của Đoàn Phú Tứ. Tím ngát chứ không phải tím ngắt, màu của hương thơm hòa sắc đẹp với không gian mở rộng chứ không phải màu của sắc tuyệt, xin nhà thơ họ Đoàn thứ lỗi. Thú thật là mình đọc bài thơ này cách đây chục năm rồi, nhân cơ hội này đi tìm và post lại bài thơ để hiểu thêm những gì còn chưa thấu đáo.

Màu Thời Gian

Sớm nay tiếng chim thanh
Trong gió xanh
Dìu vương hương ấm thoảng xuân tình

Ngàn xưa không lạnh nữa,Tần phi
Ta lặng dâng nàng
Trời mây phảng phất nhuốm thời gian

Màu thời gian không xanh
Màu thời gian tím ngát
Hương thời gian không nồng
Hương thời gian thanh thanh

Tóc mây một món chiếc dao vàng
Nghìn trùng e lệ phụng quân vương
Trăm năm tình cũ lìa không hận
Thà nép mày hoa thiếp phụ chàng

Duyên trăm năm đứt đoạn
Tình một thủa còn hương
Hương thời gian thanh thanh
Màu thời gian tím ngát

Đoàn Phú Tứ

Chủ Nhật, 1 tháng 7, 2007

Thơ nhạy cảm

Tình

Trăng soi chênh chếch nắng khuya
Để anh che giúp ngực kia chân này
Thế rồi trăng thẹn núp mây
Còn riêng anh với dầy dầy ngọc em

30-6-2007
HY
Confuciusornis, a Cretaceous bird from China
Đi
Ngoài kia chim chóc bay cao
Trong này anh cứ đi vào đi ra
Ngoài kia hoa cỏ la đà
Trong này anh cứ đi ra đi vào
Em yên mà chẳng được nào
Thế nên em cũng ra vào với anh...
26-6-2007
HY
P/S: 1. Mọi người đọc cái này đi hay lém ;) Đọc Tố Nữ Kinh
Nhưng mà cũng có chỗ chưa đúng đâu hehe, ví dụ như... sau ba ngày... thì chưa thể có iem bé được đâu à nha! ;)
2. Ảnh lấy trên mạng, không phải của tớ.
3. Tên khác của blog: Đêm ngày qua ô cửa

Thứ Tư, 27 tháng 6, 2007

Màu yêu thương và Nuôi vi khuẩn

04

Các bạn đừng ngạc nhiên với cái đầu đề vì blog này là một sự cố tình kết dính các mối huyên thuyên của tớ. ;)

Do gõ online ở lab, thỉnh thoảng tớ lại phải chạy ra trông máy nên có thể phải ngừng giữa chừng. Thú thật tớ hay tạo blog trong hoàn cảnh này nên không viết được cái gì dài dòng đầy đủ cả, chỉ thích hợp với việc post dăm câu thơ thẩn thôi.

"Núi non trùng điệp một màu yêu thương" là câu cuối của blog trước, vì nó mà có bạn hỏi tớ: "Màu yêu thương là màu gì thế?" hihi, trả lời câu hỏi này khéo phải vài trang phê đúp. ;)

Tự nhiên nhớ đến Màu thời gian của Đoàn Phú Tứ:

Màu thời gian không xanh

Màu thời gian tím ngắt

Hương thời gian không nồng

Hương thời gian thanh thanh...

Màu thời gian trong con mắt một cung phi không xanh thênh thang mà hun hút tím như những hành lang cung cấm dài vô tận. Hương thời gian đâu còn là hương thủa ban đầu nữa mà nồng nàn, hương thời gian là hương mỗi ngày mỗi phôi pha...

Đấy, thời gian còn có hương có màu nữa là tình cảm. Núi non trùng điệp..., tớ rất thích màu xanh của cây lá và màu vàng nâu của đất, chúng hòa vào nhau thật là đẹp.

Tớ thích những gam màu nhạt ở tự nhiên làm nên màu nền cho đất đai, tớ cũng thích màu trời, màu biển. Ngày xưa bạn tớ có người thích màu đỏ bảo tớ là sao toàn thích những màu nhạt nhòa. Bởi vì mắt tớ thấy dễ chịu với đất trời núi non sông biển, hoa tớ cũng thích những hoa dại màu nhàn nhạt, tớ chả thích chụp ảnh hoa gì đỏ choét hoặc quá sặc sỡ. Thử tưởng tượng xem, vài đốm hoa đỏ trên cái nền tớ thích hẳn là còn có thể đẹp chứ cái nền yêu thương sông biển núi đồi của tớ mà chuyển rùng rùng sang màu đỏ thì thật kinh hãi, tớ sợ.

Tớ luôn luôn thấy cái nền của tớ đẹp và liền mạch một mối, tất cả làm nên một tổng thể hài hòa và bền bỉ vững vàng, đi giữa màu xanh cây lá làm lòng tớ bình tâm thư thái, nhìn những thớ đất phơi màu tớ cảm thấy dễ chịu, tớ chọn cho màu áo của tớ giống thế. Ôi màu đất đai cây cỏ yêu dấu, thật tuyệt vời biết bao khi tớ được nhìn thấy màu yêu thương mỗi ngày trong thời gian hè này.

Cái câu bắt đầu bằng "Ôi" vừa rồi hẳn nhiều bạn sẽ thấy vừa buồn cười vừa sến nhưng đấy là một thực tế vì nơi tớ đang ở một năm sáu tháng tuyết rơi. Một sớm mai tỉnh dậy nhìn ra cửa chỉ toàn một màu trắng, tớ gọi là màu lạnh lẽo, nhưng nói nữa thì sẽ kéo ra rất dài bởi vì sẽ có màu thương tổn, màu chết chóc, là màu của những cánh rừng cháy trụi từng phần hay toàn bộ mà tớ đã đi qua... Thôi những điều này sẽ nói vào blog khác vậy.

Tóm lại thì màu yêu thương của tớ gắn với sự sống, nói đến sự sống phải quặt ngay sang chuyện nuôi vi khuẩn kẻo lại lan man sang nhiều cái khác. Cái ảnh trên là ảnh tớ chụp hồi học Master, vẫn nhớ cái phòng thí nghiệm khoa Sinh trên tầng bảy có chị Irene kỹ thuật viên nhiệt tình chỉ bảo.

Sau khi hướng dẫn cho mình thì chị Irene có kỳ vacation nên chị giao chìa khóa cho mình để một mình mình làm trong căn phòng ấy. Chị để lại cho mình một cái đài nhỏ bảo mở nhạc nghe cho vui nhưng mình cũng ít mở. Căn phòng yên tĩnh, xung quanh mình là bàn để dụng cụ và một số máy móc. Mình vừa làm vừa chìm đắm trong một dòng suy nghĩ kỳ lạ...

Dường như mình đã đứt đoạn với thế giới bên ngoài để bước vào một thế giới khác một cách âm thầm. Ý nghĩ của mình dò dẫm trở lại từ những bước đầu trong nghiên cứu của mình. Lúc đó mình đang tìm hiểu về một nguyên tố và hành trình của nguyên tố ấy, những dạng ô xy hóa và khử của nó khi tích tụ vào sediment ở đáy hồ.

Môi trường ở đáy hồ là môi trường khử, hay còn gọi là yếm khí, đại loại là không có mặt oxy. Vì vi khuẩn có ảnh hưởng rất nhiều đến sự khử của nguyên tố mình nghiên cứu nên mình phải xem xét đến sự có mặt của vi khuẩn. Vậy nên mới dẫn đến việc mình phải nuôi vi khuẩn yếm khí của bùn trong môi trường không có oxy rồi dùng kỹ thuật counting để kiểm tra sự có mặt của vi khuẩn (như những đĩa trên, đĩa trái là mẫu có vi khuẩn, đĩa phải là control). Một mẫu cùng dạng được xử lý để loại trừ vi khuẩn được thực hiện đồng thời để so sánh. Mình chọn UV radiation để diệt vi khuẩn...

Đoạn việc mình đang làm lúc ấy là nuôi vi khuẩn trong hai mẫu, một mẫu xử lý bằng UV và một mẫu ko. Cả hai mẫu đều xuất phát từ mẫu sediment hồ M. với độ sâu từ 1cm đến 14 cm đã được làm khô lạnh và bảo quản lạnh.

Mình theo dõi và đếm vi khuẩn ở các dung dịch diluted trong vòng một tháng nuôi cấy. Hàng ngày theo dõi sự lớn của các đốm vi khuẩn đủ để counting, giới hạn cho việc counting thực hiện tốt là từ 30-300đốm/đĩa, vì vậy mình phải tiến hành rất nhiều dilution facter để tìm ra cái thích hợp. Hồi ấy chồng con mình chưa sang nên mình đến làm từ sớm và đến tối mịt mới về, suốt ngày loanh quanh ở căn phòng đó.

Rồi một buổi chiều, khi mở hộp ko oxy để lấy đĩa ra đếm, như thường lệ vẫn là mùi thối của H2S bay ra (vì vi khuẩn SRB sinh ra khí này) mình chợt có một cảm giác hạnh phúc kỳ lạ, như thể lũ vi khuẩn này là những con gì đó đáng yêu và quen thuộc. Mình soi đĩa dưới đèn và thấy chúng ngoan ngoãn và hạnh phúc lớn đều khi các điều kiện nuôi chúng được bảo đảm (nhiệt độ, ko Oxy, chất dinh dưỡng). Trong niềm hạnh phúc ấy, mình như thấy đã được tham gia vào cái thế giới sâu xa ấy như là một thành viên để thấy những gì xung quanh hiện diện.

Đó không còn là sự đen của đáy bùn, sự thiếu vắng khí thở oxy, đó là cả một thế giới đang rì rầm lan chuyển tích tụ và phân tán, tận dụng mọi nguồn năng lượng để sinh sôi. Khi điều kiện khắc nghiệt thì tạm im lặng cầm chừng, khi thuận lợi là bừng bừng nở rộ, cứ thế nương theo thời gian mà cần mẫn đi lên. Mình đã gặp và yêu thế giới tuyệt vời ấy. Thế giới của những con vi khuẩn.

Thứ Ba, 26 tháng 6, 2007

Kể từ khi...


user posted image

Kể từ khi biết yêu thương

Đã trông đường vắng mà tường dấu chân

Đã nguôi chờ những ân cần

Đã nghe trong gió xa gần khúc vui

Đã quên cay đắng ngậm ngùi

Đã thôi đào huyệt chôn vùi nỗi đau...

Trời cao xanh thẳm trên đầu

Núi non trùng điệp một màu yêu thương.

***

25-6-2007

HY

Chủ Nhật, 24 tháng 6, 2007

Em gái nằm đọc sách




Em gái nằm đọc sách
Chống tay đỡ lo đời
Mắt hút vào trang mở
Mái tóc dài buông lơi
*
Trăng ngoài kia lặn rồi
Nơi em nằm trăng nhú
Trăng mềm như áng mây
Trăng hiền như hoa rủ
*
Thao thức dòng sông nhỏ
Thao thức cả núi đồi
Trang sách cùng em trôi
Về một nơi huyền diệu...
***
23-6-2007
HY

(Ảnh avatar của em gái thích đọc sách Codet, trong ý nghĩ của mình thì em giống hệt cô gái này, thế nên viết mấy câu trên để tặng em nhân một ngày không phải ngày gì đấy...)

Thứ Bảy, 23 tháng 6, 2007

Entry for June 23, 2007


(Ảnh từ blog Phương Tít)

Nhân thể lấy thêm của em Tít cái ảnh, viết cái mẩu này trêu em Tít cho vui :)

Đèo xe đạp

Ở xóm giữa có em Tít tuổi cập kê rất xinh đẹp nên nhiều anh đến tán, trong số đó nổi lên là Chích và Vèo. Tít vẫn còn đang lưỡng lự chưa biết gật anh nào.
Mồng ba tháng ba, Vèo dắt xe đạp sang nhà rủ Tít đi ăn bánh trôi chay, Tít vui vẻ ngồi sau xe đạp để Vèo đèo đi. Tuy vậy, đến lúc về, Tít lại mượn cớ rẽ vào nhà bạn bảo Vèo về trước.
Tết Đoan ngọ, Chích cũng dắt xe đạp sang rủ Tít đi chơi, Tít ngồi sau để Chích đèo đi đèo về rất phấn chấn. Sau lần ấy, nhà Tít nhận trầu cau của nhà Chích, mọi chuyện coi như xong.
Ngày lại mặt, Tít gặp bạn gái cũ Thị Anh. Thị Anh hỏi: " Sao không phải là Vèo mà lại là Chích?" Tít tủm tỉm: "Cả hai cùng đèo Tít bằng xe đạp, nhưng chỉ có Chích buộc tấm vải mưa vào gác ba ga cho Tít ngồi khỏi đau, hỏi ai đã quan tâm, yêu thương, lo lắng cho Tít hơn?"




Thứ Sáu, 22 tháng 6, 2007

Camomile Tea

Camomile Tea

Katherine Mansfield.

Outside the sky is light with stars;
There's a hollow roaring from the sea.
And, alas! for the little almond flowers,
The wind is shaking the almond tree.

How little I thought, a year ago,
In the horrible cottage upon the Lee
That he and I should be sitting so
And sipping a cup of camomile tea.

Light as feathers the witches fly,
The horn of the moon is plain to see;
By a firefly under a jonquil flower
A goblin toasts a bumble-bee.

We might be fifty, we might be five,
So snug, so compact, so wise are we!
Under the kitchen-table leg
My knee is pressing against his knee.

*****

http://farm1.static.flickr.com/157/422272987_173c943b58_o.jpg

(Ảnh trà hoa cúc của Tít ở langven.com)

Chủ Nhật, 17 tháng 6, 2007

Entry for June 17, 2007

http://i164.photobucket.com/albums/u27/chitto2/07_04_QuangNam/2007_0304_QuangNam235copy.jpg
Ảnh của Chitto ở langven.com

Em viết

*

Chữ Anh cao râm mát một bóng cây

Chữ em mềm như con mèo đến dựa

Chữ Ân Ái như sóng trào sấp ngửa

Chữ Thiên thu hun hút một con đường...

*

Rưng rưng lòng khi viết chữ Quê hương

***

16-6-2007

HY

Thứ Bảy, 16 tháng 6, 2007

Chồng bảo vợ...


user posted image

*****************

*

Chồng bảo vợ: Yến ơi, đời đen bạc

Mấy vần thơ có che được em không

Gai góc nằm sâu dưới những lục, những hồng

Em có sợ những nhát đâm đau xót?

*

Em nghe kìa có con chim đang hót

Tiếng mỏng manh như một sợi tơ vàng

Ôi con chim sống sót lúc xuân sang

Bạn bè nó mùa đông rồi chết cả

*

Em có thấy dòng đời trôi hối hả

Sao em còn đứng đó ngác ngơ

Mắt mông lung như thể vẫn mong chờ

Điều kỳ diệu giữa tháng ngày đều đặn

*

Sống đi em, một cuộc đời vừa vặn

Vui niềm vui con trẻ lớn từng ngày

Cơm, áo, gạo, tiền vất vả mấy ai hay

Hạnh phúc đấy, trên tay em có thấy?

***

HY

4-2007

Thứ Hai, 4 tháng 6, 2007

Bạn cùng lab

Để mấy cái ảnh ở đây đã, lúc nào tẩn mẩn sẽ viết sau...


http://img.photobucket.com/albums/v680/tthytn/Ban%20cung%20lab/anh3.jpg

Ảnh này chụp năm 2005, hôm chia tay với bạn Tàu tên Xuy (ngồi ngoài) để bạn ấy lên đường về nước, bạn ngồi giữa là bạn Đan, bạn này cũng Tàu nhưng nhập cư đã lâu. Bạn Đan hiện vẫn là bạn chiến đấu tại lab với mình cùng một bạn Canadian nữa (bạn này khi ấy đứng chụp ảnh cho bọn mình nên ko có mặt).


http://img.photobucket.com/albums/v680/tthytn/cauca%20mua%20he/10pond.jpg

Bạn Canadian ấy đây, sắp xong Master, đang cần cù ngồi viết Thesis, sinh ra ở thành phố này, câu cá rất giỏi. Trong ảnh bạn ấy đang bế một con cá pike nặng 10 pounds.

Có một vài chuyện vui vui với các bạn Tàu. Hồi mới gặp, bạn hỏi mình có đọc truyện Tàu không, mình kể một loạt Tam quốc, Thủy Hử, Tây du ký, Liêu trai chí dị, Hồng Lâu Mộng, Kim Bình Mai ...mình cũng đọc Lỗ Tấn, Mạc Ngôn... và gần đây là Vệ Tuệ. Hai bạn Tàu trố mắt ra nhìn, mày đọc nhiều thế, mình bảo mình đọc thế là ít, chủ yếu đọc hồi còn thanh niên mới lớn, bạn mình ở VN họ còn đọc nhiều hơn mình. Hai bạn bẽn lẽn thú thật với mình là chưa biết văn học VN như thế nào để khoe với mình, mình cười xòa bỏ qua. Khi nói sang phim truyện thì các bạn lại tiếp tục choáng váng với danh sách mình kể, lý do là hồi mình ở nhà đa số phim truyền hình nhiều tập là phim Tàu cho nên mới ra nông nỗi ấy.

Các bạn đâm quý mến mình, một lần bạn hỏi mình thích bài thơ nào của Tàu ko mình liền đọc bài "Quan quan thư cưu, tại hà chi châu, yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu..." các bạn hiểu ngay và đọc lại bằng tiếng Tàu xịn hơi lơ lớ giống cái mình đọc, một bạn khoái quá đề nghị mình học tiếng Tàu đi bạn ấy dạy cho, nhưng mà mình một là lười hai là mỗi khi các bạn ấy xỉ xổ tùy tùy thì thấy ong ong đầu nên mình rút lui khe khẽ. :)

À, nói về các nhà văn hiện nay ở Tàu thì các bạn ấy chê Vệ Tuệ, nói văn ấy các bạn không thèm quan tâm, nói thêm là các bạn Tàu ở đây cũng tầm tầm tuổi mình như vậy là cũng giừ giừ rồi nên có lẽ ko thích hợp với các luồng gió mới chăng.

(Còn tiếp)



Thứ Sáu, 1 tháng 6, 2007

Entry for June 01, 2007. Viết cho con trai

user posted image

Con trai yêu quý, mẹ không biết tại sao con lại nghĩ tốt về mẹ nhiều thế, có lúc con nói thế này với mẹ làm mẹ cứ buồn cười: "Mẹ ơi, bố thật may mắn đã tìm thấy mẹ để lấy làm vợ, con sau này không biết có tìm được ai giống mẹ không". Mẹ đã nói với con là mẹ có nhiều khiếm khuyết và tính xấu vậy mà con vẫn khăng khăng ý mình, con còn nói rằng con người thì ko hoàn hảo (nguyên văn của con: human is not perfect), con làm mẹ bất ngờ đấy.

Con trai ạ, mẹ cảm ơn con rất nhiều. Tình cảm của con dành cho mẹ luôn khiến mẹ rưng rưng. Con nhạy cảm quá, con thường nhìn vào mắt mẹ những khi mẹ buồn. Khi ấy dù mẹ bâng quơ nói đùa gì đó cho con vui thì con cũng nhận ra ngay.

Con nói với mẹ: "Mẹ ơi, con yêu mẹ, con phải làm gì để mẹ vui?", mẹ tự thấy mình thật đáng trách vì đã khiến con phải lo lắng. Mẹ khóc. Mẹ có thể đã không chảy nước mắt được nếu con không dành cho mẹ nhiều yêu thương đến vậy.

Thật ra thì mẹ cũng hay khóc, chẳng hiểu tại sao lại thế, đôi khi nước mắt mẹ cứ tự nhiên chảy ra ràn rụa không kìm được. Mẹ trấn an con là không sao đâu con, mẹ không sao đâu...

Nhưng một lần chúng mình đùa vui con chợt nói một câu nghiêm trọng: "Mẹ ạ, con sợ nhất là những khi mẹ khóc".

Con ơi, mẹ xin lỗi con. Mẹ thực là ích kỷ. Xin lỗi con.

Sáng nay con lại nhìn vào mắt mẹ, trước khi đi học, con chào mẹ, và con lại nói nhỏ: "Mẹ ơi, con yêu mẹ."

Cảm ơn con, con trai bé bỏng. Chúc con vui nhân ngày quốc tế thiếu nhi 1-6.

1-6-2007

Thứ Năm, 31 tháng 5, 2007

31-5-2007


user posted image

***********************

Chỗ tôi

.

Ở chỗ tôi không có rau răm

Không có cải mùng tơi không có

Cà không có rau muống không có

Rau dền không rau ngót cũng không…

.

Giữa chợ đông tôi dừng chân hát:

“Về trời... rau cải... gió đưa...

Rau răm ở lại cũng thừa đắng cay”

Không ai đến cầm tay tôi trách:

Này cô ơi, hát thế sai rồi...

.

31-5-2007

HY

Thứ Ba, 29 tháng 5, 2007

Entry for May 30, 2007

Triết lý khoa học hiện đại

Nguyễn Đức Hiệp [i]

(Tiếp theo)

Cơ bản, khoa học là một hoạt động "vô tổ chức" và nhân bản, Feyarabend khẳng định. Vì thế, theo ông, nên khuyến khích, thúc đẩy sự tiến bộ, thay vì ép buộc khoa học vào một khuôn khổ được chỉ đạo theo "luật lệ và trật tự". Một nguyên lý duy nhất không ngăn cản sự tiến bộ của con người là: tất cả đều được cho phép và hoạt động. Feyarabend cho rằng nên bãi bỏ sự phân biệt giữa bối cảnh (context) của sự khám phá và bối cảnh của sự phản nghiệm, của tiêu chuẩn, của dữ kiện quan sát. Cố gắng phân biệt chúng sẽ có những kết quả thảm hại không lường được. Theo Feyarabend, chủ nghĩa duy lý phê phán của Popper thất bại là vì thế. Trong xã hội dân chủ, khoa học phải được tách rời ra khỏi chính quyền cũng như tôn giáo đã được tách ra khỏi chính quyền như hiện nay; không một phương pháp hay một tôn giáo nào được độc tôn trong hệ thống chính quyền xã hội.

6. Hậu hiện đại (postmodernism) và chủ thuyết tương đối (relativism) trong "chiến tranh khoa học":

Theo nhà vật lý Weinberg thì trong vài năm gần đây khoa học đã bị tấn công từ nhiều phía đứng chung dưới bảng hiệu "chủ nghĩa tương đối" (relativism) hay chủ nghĩa hậu hiện đại. Theo ông, họ phản bác tuyên bố của khoa học là khám phá tìm ra sự thật khách quan. Các nhà triết học hậu hiện đại cho rằng khoa học chỉ là một hiện tượng xã hội, không khác chi những hiện tượng xã hội khác như tôn giáo, mê tín, nghệ thuật. Theo họ, quá trình tiến tới các tư tưởng khoa học có nhiều yếu tố chủ quan. Như đã trình bày ở trên, các nhà xã hội học và triết gia hậu hiện đại đã bị ảnh hưởng lúc đầu bởi ý niệm "mô thức" (paradigm) của Kuhn, nhưng ta cũng thấy ngay là triết lý của Feyarabend cũng là một phần chủ yếu của chủ nghĩa hậu hiện đại.

Khác với chủ nghĩa lãng mạn (là một phản ứng với một thế giới quan dựa vào lý trí trong thời Khai sáng, quan niệm rằng con người nên trở về với thế giới thiên nhiên, dựa vào cảm tính, tình cảm mãnh liệt và sự nhất thời), chủ nghĩa hậu hiện đại ít nhất vẫn tin vào duy lý trong sự tương đối. Như Wilson (12) đã nói, chủ nghĩa hậu hiện đại mới chính là phản đề (antithesis) tối hậu của tư tưởng duy lý thời Khai sáng. Sự khác biệt giữa hai tư tưởng này có thể được tóm tắt như sau: những nhà tư tưởng khoa học thời Khai sáng cho rằng chúng ta có thể hiểu biết tất cả, còn những nhà hậu hiện đại tin rằng chúng ta có thể không hiểu biết gì hết.

Quan điểm trên của chủ nghĩa hậu hiện đại có thể bắt nguồn từ sự giảm tin tưởng vào khả năng của khoa học trong việc giúp con người hiểu rõ và giải quyết các vấn đề khó khăn trong đời sống. Trước kia, con người, nhất là từ đầu thế kỷ 20 đến thập niên 1960, rất tin là khoa học sẽ cho phép hiểu biết cặn kẽ, rõ ràng mọi vấn đề trong đời sống. Các khám phá khoa học đã ảnh hưởng rất nhiều lên cuộc sống, nhưng thực tế cho ta thấy có những hệ thống rất phức tạp, không tiên đoán chính xác được (như kinh tế, thời tiết, môi trường, v.v... ).

Các nhà xã hội và nhân chủng học của chủ nghĩa hậu hiện đại đã đưa ra luận cứ cho rằng ngay cả tiến trình thay đổi trong các lý thuyết khoa học là một tiến trình xã hội: hệ thống thẩm định bài vở giữa các nhà nghiên cứu cùng ngành (peer review) cho thấy "các sự thật khoa học, thực ra là những thoả thuận xã hội phổ cập và cái gì là "thật" (real) khoa học, đạt được rõ ràng qua một "tiến trình khoa học" thương lượng" (13). "Thương lượng để đi đến kết luận" là điều đã được chứng minh, hay là một thí nghiệm tốt, thì cũng rối rắm như bất cứ tranh luận nào giữa các luật sư hoặc các chính trị gia.

Chủ nghĩa hậu hiện đại trở thành phổ biến và phát triển rộng rãi trong văn học, nghệ thuật và khoa học xã hội vì với cái nhìn tương đối trong việc đánh giá và thưởng thức các tác phẩm nghệ thuật, nó tỏ ra phóng khoáng và bao gồm. Nó cũng dựa vào triết lý “hậu cấu trúc luận” (post-structuralism), mà hai triết gia Pháp Roland Barthes và Jacques Derrida là tiêu biểu.

“Cấu trúc luận” (structuralism) của Claude Levi-Straus cho rằng bất luận tác phẩm viết về thiên nhiên, lịch sử hay chủ đề gì, cả chủ đề lẫn ngôn ngữ dùng để cấu tạo tác phẩm cũng phải được xem xét trên một hệ thống rộng lớn hơn, bao gồm quy ước, hoàn cảnh lịch sử, xã hội trong thời đại mà tác phẩm ra đời, chứ không chỉ chuyên về chủ đề mà thôi. Do đó ta có thể dùng hệ thống cấu trúc cùng ngôn ngữ, lý luận, phương pháp khoa học để khám phá ra sự thật cụ thể.

Mặt khác, những người hậu cấu trúc luận như Derrida thì cho rằng cả hệ thống cấu trúc như vậy là tự mâu thuẫn không tưởng, và sụp đổ do sự thiếu nhất quán của nó. Ngay cả ngôn ngữ diễn đạt dùng trong tác phẩm cũng không hàm chứa sự thật, và ý nghĩa của bản văn luôn thay đổi chứ không cố định. Derrida cho rằng một cấu trúc (structure) phải có một “trung tâm” mà các thành phần liên hệ của cấu thể dựa vào. “Trung tâm” này không thể thay thế được và vì thế không phải là một bộ phận hoạt động của cấu trúc. Trung tâm vừa nằm trong cấu trúc vừa nằm ngoài cấu trúc. Điều này có vẻ như mâu thuẫn. Thí dụ Thánh Kinh (Bible) có thể được coi là trung tâm của đạo Cơ đốc, nhưng nếu ta cho rằng Thánh kinh gồm có hai phần, Cựu ước và Tân ước, thì trung tâm lại đổi khác. Sự bền vững của cấu trúc vì thế bị tháo giải ra (deconstruct) và không còn giá trị hay chỉ còn giá trị tương đối với các khuyết điểm của nó. Để hiểu một cấu trúc, cần phải phá trung tâm (de-center) và tháo giải (deconstruct).

Derrida cho rằng tất cả lịch sử khái niệm về cấu trúc trong tư tưởng chỉ là một chuỗi các sự thay thế của các trung tâm. Trường phái cấu trúc luận và hậu cấu trúc luận cũng là sự thay đổi nối tiếp của các trung tâm với các giá trị khác nhau. Mỗi nền văn hoá là một tập hợp các niềm tin khác nhau, vì thế có các trung tâm khác nhau. Tất cả đều tương đối. Không có một ý niệm nào tuyệt đối khách quan về sự thật.

Theo hậu cấu trúc luận thì không thể nào hoàn toàn định nghĩa một "văn bản", và không bị giới hạn bởi nghĩa mà chính tác giả đặt định. Nói cách khác, văn bản có nhiều tự chủ, trong đó nghĩa của nó được tách khỏi sự ràng buộc theo ý muốn của tác giả. Muốn hiểu nghĩa của văn bản sao cũng được vì ngữ và nghĩa luôn thay đổi, không cố định.

Từ vài thập niên gần đây, có nhiều câu hỏi và tranh luận, cũng như đụng độ giữa các khuynh hướng khác nhau về thế nào là khoa học, và phương pháp khoa học "đích thực" là gì. Quan niệm về các mô thức của Kuhn, và hậu cấu trúc luận của Derrida như đã trình bày ở trên, rất ăn khớp với chủ nghĩa hậu hiện đại. Theo đó mỗi mô thức đều có giá trị khác nhau và ta không thể so sánh chúng dựa vào tiêu chuẩn chung nào, vì chúng hoạt động trong một khuôn khổ, môi trường với quan niệm khác nhau.

Ngày nay có sự phân chia rất sâu đậm giữa khoa học theo Popper (chủ yếu là vật lý) và các khoa học nhân văn xã hội dựa vào Kuhn, Feyarabend và Derrida. Hố sâu "văn hoá" đó là rất lớn. Nhà vật lý Weinberg đã công kích các nhóm khoa học nhân văn (humanity sciences), xã hội văn hoá học (cultural sociology) theo chủ thuyết hậu hiện đại (post-modernism) khi họ cho rằng khoa học như ta biết được từ xưa đến nay đều mang ảnh hưởng và cái nhìn văn hoá của nền văn minh phương Tây và vì thế phủ nhận tính khách quan của mọi khoa học. Weinberg, mặc dù rất phục Kuhn, nghĩ rằng ý niệm "mô thức" của Kuhn quá mơ hồ và đã bị các nhà hậu hiện đại lạm dụng để đả phá các ngành khoa học khách quan nhằm lập ra các ngành mới, với ý đồ.

Rất nhiều người theo chủ thuyết hậu hiện đại tự cho mình là tiên phong (avant-garde), đã đi vào vật lý cơ học lượng tử (quantum) hay thuyết hỗn loạn (chaos theory), những lãnh vực rất mới, thời trang để tìm, dẫn thêm, phác họa, hay để chứng minh tính chất rời rạc và ngẫu nhiên của kinh nghiệm con người và tính chủ quan của môi trường văn hoá xã hội trong mọi hoạt động của cuộc sống. Cách đây không lâu Sokal (xem phụ đính) đã tạo một cú sốc đối với nhóm xã hội học (sociology) và hậu hiện đại, cho phép Weinberg hân hoan tuyên bố rằng tất cả những môn đồ của khoa học xã hội theo hậu hiện đại quả thật chỉ là một bọn bá láp.

Cuộc chiến tranh "hai văn hoá" này đã xảy ra trong hơn 30 năm qua. Nó tạo ra hình ảnh rập khuôn (stereotype) về hai phe: một bên là phe Popper "hữu khuynh", "khách quan", còn bên kia là phe Kuhn - Derrida thì "tả khuynh", "chủ quan". Không ít khoa học gia nằm ở hai chiến tuyến, nhưng cũng có một số nghiên cứu liên ngành nằm giữa hai gọng kìm: khoa học "cứng" ("hard science") và khoa học "mềm" ("soft science").

7. Tổng luận về triết lý khoa học ngày nay:

Về triết lý, sự khác nhau cơ bản của hai trường phái trong "chiến tranh khoa học" là tri thức của con người được "khám phá" (theo phái khoa học khách quan) hay là được "tạo ra" (theo phái chủ nghĩa tương đối hậu hiện đại). Theo đó không có đụng chạm giữa khoa học vật lý và khoa học nhân văn về phương pháp khoa học và đặc tính chân lý, về sự thật của tính tương đối hay tuyệt đối trong khoa học ngày nay. Ngay trong ngành sử học của khoa học nhân văn cũng có khác nhau giữa trường phái khách quan khoa học và chủ quan hậu hiện đại, và trong ngành sinh học trình bày ở phần trên cũng có sự khác biệt phản ánh qua cuộc tranh luận về khoa học tiến hoá giữa Gould và những người theo thuyết Darwin cổ điển.

Thí dụ gần đây là cuộc thảo luận sôi nổi về việc có hay không tính khách quan trong nghiên cứu lịch sử tại đại học New South Wales ở Sydney (Úc) vào tháng 8, 2002 (18) có sự tham dự của Richard Evans, một sử gia "trường phái khách quan" ở đại học Cambridge, tác giả "In Defence of History" ("Bảo vệ lịch sử") từng là nhân chứng chuyên gia cho vụ án David Irving. (Irving là sử gia theo phát xít Nazi đã phủ nhận vụ thiêu người Do thái (holocaust) và dùng mập mờ, uốn nắn tài liệu sử học để tô hồng hình ảnh của Đức quốc xã. Irving bị kiện là đã xuyên tạc lịch sử và xúc phạm nhân bản.) Tại diễn đàn, Evans chỉ trích các nhà sử học hậu hiện đại khi họ cho rằng không có gì có thể gọi là sự thật khách quan. Ông hỏi lại: vậy thì chính câu hỏi này có là sự thật khách quan không? Richard Evans đưa ra thí dụ về vụ Irving để khẳng định là có sự thật khách quan. Ông giải thích: nếu mọi cách nhìn lịch sử đều là đúng thì sự không có lò thiêu người (như Irving khẳng định) cũng là đúng sao? Giáo sư Stephen Garton (một sử gia hậu cấu trúc) ở đại học Sydney nhìn nhận là lịch sử có đúng hoặc sai, cũng như trong hàng ngũ các nhà hậu hiện đại có người giỏi người dở, nhưng ông cho rằng một nhà hậu cấu trúc như Foucault có nhiều cống hiến quí báu bằng cách dùng tư tưởng này để vạch ra các hướng đi mới cho sử học như lịch sử sinh lý học, lịch sử thực phẩm, y khoa v.v..

Keith Windshuttle, tác giả "The killing of history: how literary critics and social theorists are murdering our past" (Ám sát lịch sử: các nhà bình luận văn học và lý thuyết xã hội đã giết chết quá khứ của chúng ta như thế nào")(19), phát biểu rằng quan hệ giữa thổ dân và người da trắng trong lịch sử Úc lúc đầu thường là thân thiện chứ không phải bao giờ cũng là thù địch, nhằm tiêu diệt nhau. Và việc chúng ta có thể viết lịch sử một cách khách quan hay không là tùy thuộc vào hệ thống tôn giáo, chính trị. Giáo sư Dirk Moses ở đại học Sydney phê bình ý kiến này của Windshuttle, cho rằng khi ông không dùng những tư liệu truyền khẩu của thổ dân vì đứng trên quan điểm của người da trắng thì đấy là điều rất khách quan, nhưng điều khách quan này thực sự có màu sắc chính trị, không khách quan.

Behan McCullagh, giáo sư đại học La Trobe, tác giả "The truth of history" ("Sự thật lịch sử"), theo trường phái lịch sử khách quan, thì hòa hoãn hơn, cho rằng các sử gia khách quan cũng đã chấp nhận và áp dụng một số điểm đúng của hậu hiện đại về ảnh hưởng của văn hoá, chính trị khi viết sử. Theo McCullagh, khó có lịch sử nào hoàn toàn đúng, nhưng không vì thế mà cho là lịch sử sai khi nó không hợp với thiên kiến của một số người đọc. Ông đưa ra một ý niệm về thực tiễn, nằm giữa sự thật tuyệt đối và sự thật tương đối: lịch sử không hoàn toàn nhưng nó đúng trong những mục đích thực tiễn cốt yếu trong hoàn cảnh có được. Joy Damoussi, giáo sư đại học Melbourne, cho rằng tất cả lịch sử đều chủ quan, nhưng đó cũng không phải là xấu. Rất tốt nếu chúng ta có nhiều quan điểm khác nhau về lịch sử dưới góc độ khác nhau của các văn hoá truyền thống, và từ đó có thể tổng hợp đi đến cái gì gần đúng với sự thật hơn.

Người phương Tây có khuynh hướng phân tích, máy móc mổ xẻ vấn đề và tiến đến vĩ mô để hiểu tường tận. Phân tích là một bộ phận quan trọng nhất của nền khoa học phương Tây. Cũng không có gì lạ khi mà triết lý tổng hợp, hợp nhất hoà đồng, ít được phát triển ở Tây phương. Ngược lại, ở Đông phương, sự đồng nhất, hợp nhất và khuynh hướng nhìn chủ toàn là yếu tố quan trọng hơn. Nó thể hiện trong tâm linh, suy nghĩ và phản ánh trong đời sống xã hội và văn hoá của người phương Đông.

Để giải quyết sự bế tắc trong cuộc "chiến tranh hai văn hóa" (cũng gọi là "chiến tranh khoa học") giữa hai quan điểm trên, cần một khái niệm tổng hợp có ích cho khoa học tự nhiên lẩn khoa học nhân văn. Như đã trình bày trên, hiện có khuynh hướng của khoa học tìm về triết lý tổng hợp của Đông phương để bổ sung cho triết lý Tây phương.

Edward Wilson (12), người sáng lập ngành "sinh học xã hội" (sociobiology), đã kêu gọi "đình chiến" và đưa ra viễn ảnh hợp nhất khoa học tự nhiên, thực nghiệm với khoa học xã hội qua khái niệm "đồng hợp" ("consilience"). Có lẽ đây là khái niệm tổng hợp liên ngành nổi bật nhất trong hơn 3 thập kỷ qua. Đích thân Wilson cố gắng đem sinh học vào khoa học nhân văn, và kêu gọi các nhà khoa học xã hội mang kiến thức sinh học vào vấn đề xã hội. Tuy nhiên nhiều nhà khoa hoc không đồng ý với Wilson. Stephen Jay Gould (cổ sinh học) và Nils Eldredge (sinh học tiến hoá) (20), chẳng hạn, cho rằng xã hội và văn hoá là một hệ thống vô cùng phức tạp, khó có thể đem hệ thống sinh học vào.

Khuynh hướng và phương pháp tổng hợp tri thức để tìm và chứng minh một giả thuyết, hay một tri thức mới, thật sự đã được Whewell đề cập và phát hiện từ thế kỷ 19. Chính Whewell đã đặt ra từ "đồng hợp" để mô tả phương pháp này. (Nên nhắc lại, Whewell cũng là người đặt ra "scientist" hay khoa học gia trong tiếng Anh.) Theo Whewell, khái niệm "đồng hợp" trong đó các hiểu biết tìm được qua một phương pháp hay một ngành nghiên cứu, nếu có những hội ứng bổ xung hoặc hỗ tương bất ngờ với những kiến thức biết được qua một ngành nghiên cứu với phương pháp hoàn toàn khác, sẽ làm ta tin tưởng vào kiến thức và phương pháp ta đang dùng. Và vì thế giúp ta khám phá được nhiều điều mới lạ hơn.

Thật ra gần đây, ngoài những người can dự vào cuộc chiến tranh khoa học, các nhà nghiên cứu khoa học tự nhiên và nhân văn đã hợp tác hay tổng hợp, dựa vào các kết quả nghiên cứu của nhau để tìm ra những khám phá mới. Sự khảo cứu phối hợp liên ngành đòi hỏi các nhà khoa học hiểu biết những kiến thức ngoài chuyên môn của mình.

Một thí dụ cho sự khám phá tri thức mới qua cộng tác liên ngành gần đây là công trình tìm ra được cội nguồn xuất phát của dân tộc Thái qua ngôn ngữ học, khoa học hệ thống thông tin địa hình GIS (Geographic Information System) và canh nông (21). Nghiên cứu sinh học di truyền của cây ngô (bắp) đã cho thấy nơi nào ngô đã được dùng trong canh nông đầu tiên và giúp các nhà khảo cổ học tìm những địa điểm khảo cổ (22). Ở Việt Nam, nhà sử học Trần Quốc Vượng là một trong những người đầu tiên đã phối hợp nhiều ngành để giải đáp nhiều khúc mắc trong lịch sử cổ đại Việt Nam, mà nếu chỉ dựa vào sử liệu thì là đi vào ngõ cụt. Nhiều nhà khoa học tự nhiên và nhân văn hiện nay cũng có khuynh hướng này. Baker (23) nghiên cứu về những trận đại hồng thuỷ sau thời kỳ Băng hà đã dùng những dự kiện địa chất, hải dương học, khí tượng học để nghiên cứu về các trận hồng thuỷ và cho thấy là có sự hỗ tương không ngờ. Phương pháp cổ điển dùng quy nạp trong địa chất của Lyell thật sự không phải là phương pháp để nghiên cứu vấn đề này mà là phương pháp đồng hợp của Whewell với những kiểm chứng qua những liên hệ bất ngờ và các giải thích ngạc nhiên.

Một thí dụ khác là công trình của nhà khoa học y khoa Stephen Oppenheimer (24). Tác giả này đã kết hợp kết quả của nghiên cứu di truyền, hải dương học, khảo cổ học, ngôn ngữ học, dân tộc học,v.v. để tìm nguồn gốc và sự phát tán văn minh Đông Nam Á đến các khu vực lân cận và xa hơn nữa trên thế giới sau thời kỳ băng hà và việc biển tiến ở vùng đồng bằng Sundaland.

Gần đây các nhà khoa học tự nhiên đã dùng tri thức về di truyền học để giải đáp về nguồn gốc con người xuất phát từ Phi châu và toả ra khắp các lục địa. Kết quả di truyền học thực hiện trên các dân tộc vùng Á Châu đã cho thấy rõ, cũng có con người đi từ Đông Nam Á đến Trung Quốc góp thành các dân tộc ở Đông Á (25); điều này hợp với thuyết về nguồn gốc phương Nam của nhiều thành phần truyền thống văn hoá, văn minh phía Bắc. Các nhà khoa học tự nhiên đã giúp giải đáp các câu hỏi then chốt trong các ngành khảo cổ, nhân chủng và xã hội học.

Tóm lại, phương pháp đồng hợp đã bắt đầu có những áp dụng thực tiễn trong nhiều ngành khác nhau, và đã cho thấy những khám phá bất ngờ. Điểm đặc biệt của phương pháp này là nó không bó buộc các nhà nghiên cứu phải theo một phương pháp tiêu chuẩn chung nào. Quan điểm này phù hợp và không trái lại với triết lý hậu hiện đại. Từ nhiều phương pháp khác nhau, đứng từ quan điểm lịch sử phát triển riêng của các ngành, "đồng hợp" giúp ta tổng hợp kiến thức và tăng thêm tin tưởng vào các khám phá khoa học.

Con người trong xã hội thường sống trong các môi trường cạnh tranh, và mong ước có một phương tiện điều hòa, một tiêu chuẩn khách quan để giải quyết tranh chấp. Một trong những phương tiện mà nhiều người cho là khách quan và gần với sự thật là khoa học. Nhưng như ta đã thấy, khoa học cũng tương đối và tuỳ thuộc vào văn hoá, thời điểm, và không hoàn toàn khách quan. Từ đó dẫn đến dân chủ trong đa phương pháp và sau cùng khoa học là "khoa học" được chấp nhận bởi đa số khoa học gia. Trong số các phương pháp khoa học cạnh tranh nhau, phương pháp khoa học nào không mang lợi ích cho con người trong việc tìm hiểu hay áp dụng khoa học sẽ bị loại bỏ, số còn lại sẽ được chấp nhận tùy theo hoàn cảnh áp dụng. Sau "Hội nghị Thế giới về Khoa học" (World Conference on Science) tổ chức ở Budapest năm 1999, Hội đồng Khoa học Thế giới (International Council for Science, ICSU) đã ra thông cáo đánh giá sự đóng góp vào khoa học và viễn tượng tương lai của tri thức truyền thống bản địa (traditional knowledge), lập ra chương trình hành động kêu gọi sự liên hệ và hợp tác giữa khoa học và khoa học truyền thống bản xứ. Tuy nhiên ở Đại hội của Hội đồng Khoa học Thế giới (ICSU), có những quan tâm đã được nói lên, và Đại hội đã biểu quyết đồng ý phải phân biệt giữa tri thức truyền thống và khoa học và những phương pháp tiếp cận khuyến khích ngụy khoa học và phản khoa học (26).

Một Nhóm Nghiên cứu được thành lập để giải quyết vấn đề khúc mắc này. Dưới sự lãnh đạo của nhà toán học Na Uy Jens Erik Fenstad, nhóm này quy tụ các nhà khoa học ở nhiều nước thuộc các ngành khác nhau như xã hội học, triết học khoa học, thảo vật học, kỹ thuật. Nhiệm vụ của Nhóm Nghiên cứu rất quan trọng vì nếu không cẩn thận, có thể dễ dàng gây ra sự chia rẽ trầm trọng trong Hội đồng về quan điểm khoa học, như ta đã chứng kiến trong "chiến tranh khoa học". Năm 2002, Nhóm Nghiên cứu đã ra bản tường trình với các hướng dẫn về "tiêu chuẩn" dùng tri thức qua các loại "khoa học" khác nhau, nhất là sự liên quan giữa tri thức truyền thống bản xứ chẳng hạn như y học truyền thống dân tộc (traditional medicine) và khoa học hiện đại để phân biệt với "ngụy khoa học" ) chẳng hạn như thuyết "ngụy khoa học" cho rằng thế giới tạo ra bởi thượng đế (creation science) .

Hướng dẫn này đưa ra hai phương án để phân biệt khoa học, ngụy khoa học và tri thức truyền thống bản xứ và được tóm tắt như sau. Mặc dầu không có một tiêu chuẩn duy nhất chung để phân biệt khoa học với ngụy khoa học nhưng có hai phương án tổng quát để tiếp cận vấn đề, phương án xã hội và phương án tri thức học. Phương án xã hội cho rằng ngành ngụy khoa học luôn luôn cạnh tranh công khai, ít hay nhiều, với một ngành khoa học tương ứng từ lúc khởi đầu của ngành này, và thường không được đưa ra từ các nhân vật đã được đào tạo trong ngành khoa học đó. Phương án xã hội phải được bổ túc bằng phương án tri thức học qua đó khoa học có tính cách hệ thống hơn tri thức thường ngày. Có 6 phương diện để một hệ thống được gọi là khoa học: nó diễn tả cách nào, nó giải thích ra sao, nó thiết lập được tri thức bằng cách nào, nó phải có một lý thuyết, trường hợp về sự hoàn toàn, toàn vẹn, nó mở rộng tri thức ra sao và nó diễn đạt tri thức thế nào. Trong mọi ngành khoa học, ta có thể thấy khuynh hướng tăng trưởng tri thức có hệ thống ở mọi hướng, mọi mặt. Trái lại, hầu hết các ngành ngụy khoa học đều không năng động và dậm chân tại chỗ. Tri thức truyền thống bản xứ rất dể phân biệt với ngụy khoa học, vì tri thức truyền thống là một hệ thống tri thức thâu thập từ nhiều thế hệ, với cách làm, thực hành được gìn giữ, phát triển bởi một sắc dân có lịch sử cộng sinh lâu dài với môi trường thiên nhiên. Nó có nguồn gốc từ một văn hoá khác với văn hoá Tây phương và vì thế độc lập và không cạnh tranh với khoa học.

Phụ đính

Hiện tượng Sokal

Khoảng cuối năm 1994, nhà vật lý Alan Sokal đã gởi bài cho Social Text, một tạp chí nghiên cứu văn hoá, xã hội có tiếng ở Mỹ. Bài của ông được đăng trong số Xuân/Hè 1996, chuyên đề "Chiến tranh Khoa học". Tựa của bài là "Transgressing the boundaries - Toward a transformative hermeneutics of Quantum gravity" ("Vượt quá các biên giới - Đi đến một biến đổi nghiên cứu văn bản của lực hút lượng tử")(14), rất tiêu biểu cho loại thảo luận, nghiên cứu của tạp chí này và những tạp chí triết học xã hội tương tự. Ngay cả tựa đề, ngôn từ dùng rất thời trang và khó hiểu (rất nhiều nhà khoa học phải tra từ điển từ "hermeneutics", một ngành triết học nghiên cứu nghĩa và diễn giải văn bản (15)). Như nhiều bài khác trong tạp chí, bài của Sokal cũng đã chỉ trích, bài bác cái gọi là khoa học khách quan, một giáo điều của thời Khai sáng. Nhưng khác những bài kia, Sokal đã cố ý dùng những lý luận lệch lạc, viết sai những lý thuyết và sự kiện vật lý nằm trong những câu văn với những từ ngữ mang màu sắc rất hậu hiện đại.

Sau khi bài được đăng, Sokal viết một bài trên tạp chí Lingua Franca(2) trong đó ông tiết lộ là bài ông gởi cho Social Text chứa đầy những sai lầm lý luận, với những sự kiện vô lý, vô nghĩa trong vật lý học, mà bất cứ ai có vài hiểu biêt về vật lý cũng có thể thấy rõ là vô nghĩa, cũng có thể ngạc nhiên về sự ngây thơ, và biết ngay là bài chỉ để đùa cợt, chế nhạo, khôi hài. Thế mà các nhà biên tập của Social Text đã đăng mà không kiểm trước với các nhà vật lý, chỉ vì bài có ý và kết luận đúng với ý thức hệ có sẵn và định kiến của Social Text. Sokal còn cho thấy rõ, cả tạp chí và cộng đồng gọi là khoa học xã hội theo hậu hiện đại thiếu tiêu chuẩn nghiêm ngặt về trí thức và đầy ý thức hệ, định kiến sẵn, cố ý tự mình khép đóng. Họ không bao giờ có tinh thần học hỏi điều nghiên theo tư cách của các nhà khoa học chân chính, tôn trọng và thẩm định những ý kiến, nghiên cứu dù khác hoặc trái với tư tưởng và phương pháp của mình.

Bài của Sokal đã có tiếng vang rộng lớn ngoài cộng đồng triết học, khoa học. Nó làm xôn xao và gây tranh cãi, bình luận trên nhiều tạp chí và diễn đàn của nhiều ngành, cũng như trên báo chí ở Mỹ, Âu châu và nhiều nước khác. Sokal, sau đó với sự cộng tác của nhà vật lý và triết học Bỉ Jean Bricmont, ra quyển sách "Fashionable nonsense: Postmodern intellectuals's abuse of science" (16) (bản Pháp ngữ là "Impostures intellectuelles") trình bày cặn kẽ sự lạm dụng các thuyết và từ ngữ trong toán học và vật lý của một số trí thức hậu hiện đại ở Pháp, như Bruno Latour, Gilles Deleuze, Jacques Lacan, Julia Kristeva, Luce Irigary, Jean Baudrillard, và Paul Virilio. Sokal và Bricmont vạch rõ sự vô nghĩa và thiếu hiểu biết toán học và vật lý trong các bài viết của những người này và cho thấy họ không hiểu chính những gì họ viết. Quyển sách cũng cho thấy sự rỗng tuếch, dùng sáo ngữ làm bình phong cho những tư tưởng vô nghĩa của một số triết gia, đa số là thiên tả, ở Pháp có ảnh hưởng đến các trí thức ở Mỹ. Những từ ngữ thời thượng mang tính triết học hậu hiện đại rất khó hiểu ngay cả đối với những người trong ngành, theo Sokal và Bricmont, thật ra chỉ là sáo ngữ che giấu sự thiếu hiểu biết của chính họ về những đề tài thời thượng. Nhiều nhà triết học và khoa học đã cho rằng đây là một trong những quyển sách quan trọng nhất về triết học khoa học trong thế kỷ 20.

Trong bài đăng ở Social Text, Sokal cũng chế nhạo sự thiếu hiểu biết về vật lý của các nhà hậu hiện đại khi dùng từ tuyến tính "theo đường thẳng" (linear) mà theo họ là cũ, không hợp thời, thiếu sáng tạo, trong khi họ nghĩ từ vô tuyến tính "theo đường cong" (non-linear) là tiên phong và phong phú hơn. Trong bài ấy Sokal cũng bàn về tầm quan trọng trên phương diện văn hoá của thuyết lượng tử trọng lực (quantum gravity), dùng trọng lực trường là một toán tử (operator) "không hoán chuyển"(noncommuting) và vì thế "theo đường cong". Đó là một phát biểu cố tình sai lầm của Sokal, vì "không hoán chuyển" không có nghĩa là "theo đường cong". Ai học vật lý đều biết là trong cơ học lượng tử có nhiều đặc tính "không hoán chuyển" nhưng đồng thời cũng có tuyến tính "theo đường thẳng". Thế mà không ai trong ban biên tập Social Text thấy điều này vì cứ nghĩ rằng không tuyến tính "theo đường cong" là tiên phong, mới mẻ.

Sokal là nhà vật lý phái tả, từng tình nguyện đi dạy toán ở Nicaragua trong thời chính phủ cách mạng Sandinista. Vì thế, trong bài viết trên Lingua Franca, ông cũng tỏ vẻ buồn là các nhà hậu hiện đại, đa số là phái tả, đã không dùng lý trí khoa học khách quan để chống lại mê tín huyền bí như truyền thống phe tả, mà lại đả phá phương pháp khoa học khách quan để trở về với huyền bí, hỗn độn của nguyên thuỷ.

Sự tiết lộ về mục đích của Sokal đã gây tranh cãi về quy trình chọn bài. Các nhà biên tập của tạp chí Social Text giải thích rằng họ nhận đăng bài Sokal là vì họ thấy đấy là cố gắng của một nhà vật lý tìm kiếm bằng chứng trong triết lý hậu hiện đại để phát triển ngành của mình, và Social Text không phải là tạp chí khoa học có hệ thống kiểm bài (peer review) mà là tạp chí ý kiến. Một số nhà xã hội học như Steve Fuller cũng đã trả lời giận dữ là Sokal đã lạm dụng sự tin tưởng của ban biên tập và như vậy là thiếu tư cách. Ảnh hưởng và dư âm của sự kiện Sokal mạnh nhất là ở Pháp, nơi rất nhiều nhà triết học hậu hiện đại tiên phong bị "lột mặt nạ".

Bên cạnh vấn đề sử dụng hay lạm dụng lý thuyết khoa học để hậu thuẫn cho những lý thuyết, triết học hậu hiện đại của một số trí thức, như Sokal và Bricmont đã trình bày, chính đáng hơn là nghiên cứu xã hội về cách ứng xử trong hoạt động khoa học của cộng đồng khoa học gia. Harry Collins (17), nhà xã hội học chuyên về tri thức, kiến thức khoa học, tuy đồng ý với Bricmont rằng các nhà xã hội học, sử học về khoa học nên biết nhiều hơn về khoa học, vẫn nghĩ rằng vấn đề có thể đuợc tiếp cận từ một gốc độ khác. Theo Collins, nếu ta phân biệt chủ nghĩa "tương đối triết học" và "tương đối về phương pháp" như Bricmont đã luận cứ, thì chính sự tương đối của phương pháp mới là có giá trị. Đó mới chính là điểm cơ bản để thảo luận trong ngành xã hội học về tri thức khoa học (sociology of scientific knowledge). Như vậy các nhà xã hội học trước tiên không nên có thành kiến là không biết nhiều đến các khoa học khác. Nghĩa là họ không nên biết nhiều khoa học hơn cả các nhà khoa học để nghiên cứu về các hiện tượng xã hội. Đưa ra các thí dụ trong lãnh vực vật lý như thí nghiệm Michelson-Morley và máy của Dayton Miller nhằm tìm sự hiện hữu và độ dời của "ether" (ether drift) trong thí nghiệm đo vận tốc ánh sáng. Miller được giải thưởng của Hiệp hội Ủng hộ Sự Tiến bộ của Khoa học Mỹ (American Association for the Advancement of Science), trong khi Michelson-Morley không tìm được độ dời ether. Sau này các nhà vật lý mới phát giác là Miller đã sai. Nếu đòi hỏi các nhà khoa học xã hội nghiên cứu vụ này phải có những kiến thức vật lý mà chính Miller thời đó cũng chưa đạt được thì thật là vô lý.

Collins cũng cho rằng việc các khoa học gia trong các lãnh vực hiện được nghiên cứu có nhiều ý kiến khác nhau, có bất đồng trong một khoảng thời gian ngắn nào đó, là thường tình. Ngay cả khi có thêm nhiều dữ kiện, quan sát, tri thức hay lý thuyết hiện đại hơn, sự bất đồng vẫn còn chưa được giải quyết, ít nhất là thoả đáng giữa các bên đối nghịch nhau. Điều này có nghĩa là tất cả các tuyên bố gọi là khoa học đều cần được diễn giải theo ý của cộng đồng khoa học. Trong khoảng thời gian "ngắn hạn", quan điểm cho rằng cần có sự đồng thuận, ngay trong ngành "cứng" nhất của khoa học, là một quan điểm không thực tế. Thực tế cho thấy có nhiều góc cạnh, phương pháp, lý thuyết khác nhau trong khoa học mà ta chưa thẩm định hết giá trị. Không có phương pháp nào là tuyệt đối. Đây chính là quan điểm của cái gọi là chủ nghĩa tương đối phương pháp (methodological relativism).

Tham khảo

(1) Weinberg, S., "Facing up: Science and its cultural adversaries", Harvard University Press, 1999.

(2) Sokal, A., "A physicist experiments with cultural studies", Lingua Franca, May/June 1996, pp. 62-64.

(3) Verran, H., "Science and an African logic", University of Chicago Press, 2001.

(4) Weinberg, S., "Dreams of a final theory", Patheon books, New York, 1992.

(5) Popper, K., "Unended quest: an intellectual autobiography", Routledge, Edition 5, 2002.

(6) Popper, K., "Objective knowledge, an evolutionary approach", Clarendon Press, Oxford, 1989

(7) Popper, K., "The Open Society and its enemies", Routledge & Kegan Paul, London 1966.

(8) Kuhn, T., "The structure of scientific revolutions", University of Chicago Press, 1966.

(9) Sterelny, K., "Dawkins vs Gould: Survival of the fittest", Totem Books, 2001.

(10) Feyarabend, P., "Against method", Verso Books, Edition 3, Sep. 1993.

(11) Feyarabend, P.,"Explanation, reduction and empiricism", In Feigl/Maxwell, Scientific Explanation: Space and Time, University of Minnesota Press, 1962.

(12) Wilson, E., "Consilience, the Unity of knowledge", Knopf, 1998.

(13) Pickering, A., "Constructing Quarks: A sociological history of particle physics", Chicago, Chicago University Press, 1984

(14) Sokal, A., "Transgressing the boundaries - Toward a transformative hermeneutics of Quantum gravity", Social Text, 46/47, 1996, pp. 217-252.

(15) Weinberg, S., "Sokal 's hoax", The New York Review of Books, Vol XLIII, nọ 13, pp. 11-15, Aug. 8, 1996.

(16) Sokal, A., Bricmont, J., "Fashionable nonsense: postmodern intellectuals's abuse of science", Picador USA, Oct 1999.

(17) Collins, H., "What's wrong with relativism", Physics World, Apr 1998.

(18) Keenan, C., "In the right corner..", Sydney Morning Herald, Aug 17 - 18, 2002.

(19) Windshuttle, K., "The killing of history: How literary critics & social theorists are murdering our Past", Encounter Books, 2000.

(20) Eldredge, N., Gould, S., "Biology rules", Civilization 5 (Oct/Nov): 86 - 88.

(21) Luo W., Hartmann, J.F, Li, J. and Sysamouth V., "GIS Mapping and analysis of Tai linguistic and settlement pattern of Southern China", Geographic Information Sciences, 2000, 6(2):129 - 136. (xem thêm ở NASA web http://earthobservatorỵnasạgov/Study/TaiLanguage)

(22) Smith, B., "Documenting plant domestication: The consilience of biological and archaelogical approaches", Proceedings of National Academy of Sciences (PNAS, Feb. 13 2001, Vol. 98, no 4, pp. 1324-1326.

(23) Baker, V., "The study of superfloods", Science, 295, 2379 - 2380 (March 29 2002)

(24) Oppenheimer, S., Eden in the East, the drowned continent of Southeast Asia, Phoenix, 1998.

(25) Nguyễn Đức Hiệp, Khám phá mới di truyền học về nguồn gốc con người ở Đông Á, Ts Tư Tưởng, Số 7, trang 9 - 13, 4/2000.

(26) International Council for Science, ICSU, "Science and traditional knowledge", Report from the ICSU Study Group on Science and Traditional Knowledge, March 2002.

(27) Nguyễn Minh Quân, Chủ nghĩa hậu hiện đại: những khái niệm căn bản, Tạp chí Việt, Số 7, 2001.

(28) Ayer, A.J., “Language, Truth and Logic”, New York: Dover Publications, 1952.

------------------------------

[i] Chuyên viên khoa học khí quyển và môi trường, Cơ quan bảo vệ môi trường ở New South Wales,Australia

[ii] Từ "science" đã có từ thế kỷ 13, được các nhà lý luận Pháp dùng rất rộng rãi trong thế kỷ ánh sáng, cũng như chữ "scientifique" dùng như tính từ. (cf. các trích dẫn trong Littré) Còn "L'Encyclopédie" của nhóm Diderot, mà quyển đầu ra năm 1751, có tên dài hơn là " Dictionnaire raisonné des sciences, des arts et des métiers". W. Whewell đặt ra từ scientist - tiếng Pháp là scientifique (danh từ).

© Thời Đại Mới